Bệnh học viêm thân sống đĩa đệm

Thứ Ba, 19-12-2017

Viêm thân sống đĩa đệm là bệnh lý do nhiễm trùng gây ra, ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân cũng như kéo theo nguy cơ biến chứng trên cột sống. Xử lí như thế nào trong trường hợp viêm thân sống đĩa đệm? Dưới đây là một số thông tin bạn cần biết về viêm thân sống đĩa đệm để nâng cao cảnh giác về căn bệnh này.

viêm thân sống đĩa đệm
Bệnh viêm thân sống đĩa đệm

Tổng quan về viêm thân sống đĩa đệm

Viêm thân sống đĩa đệm là tình trạng nhiễm trùng có thể bắt đầu từ tấm đệm gây tổn thương tới đĩa đệm và thân sống. Bên cạnh đó, viêm thân sống đĩa đệm cũng có thể xảy ra sau khi thực hiện phẫu thuật thân sống đĩa đệm. Ngoài ra, nhiễm trùng tự phát cũng có thể gây ảnh hưởng đến khoang đĩa đệm. Đây là một trong những dạng nhiễm trùng hiếm gặp. Thông thường chỉ có từ 2% – 4% bệnh nhân gặp phải nhiễm trùng thân sống đĩa đệm.

1.Lâm sàng

Viêm thân sống đĩa đệm có những triệu chứng chính như:

  • Bệnh nhân có dấu hiệu đau (triệu chứng nguyên phát).
  • Xuất hiện những cơn đau khu khú với mức độ từ trung bình tới nặng, trầm trọng thêm bởi bất cứ vận động của cột sống. Vị trí đau thường xuất hiện trên tầng đĩa đệm bị tổn thương.
  • Cơn đau có thể lan tới các khu vực như hông, bụng, bìu, đáy chậu, cẳng chân.
  • Triệu chứng rễ từ 50% – 93% tùy thuộc vào diễn tiến của bệnh.

  • Khoảng 30% – 50% có các triệu chứng sốt, ngoài ra còn có các triệu chứng ớn lạnh.

Dấu chứng:

Bệnh nhân có các dấu chứng như:

  • Tăng nhạy cảm đau.
  • Giới hạn vận động.
  • Co thắt cơ canh sống.

2.Cận lâm sàng

Hình ảnh học: kết quả X – quang, MRI có cản từ, CT có cản từ cho thấy thương tổn ngoài màng cứng.

Xét nghiệm máu: 

  • Bạch cầu ngoài biên bình thường, hiếm khi tăng trên 12,000.
  • Tốc độ lắng máu ở những bệnh nhân không suy giảm miễn dịch ESR sẽ tăng cao trong hầu hết trường hợp bệnh nhân. ESR trung bình sẽ đạt từ 60 mm/h.
  • CRP: đặc trưng hơn trong trường hợp nhiễm trùng sau mổ.

Cấy máu: có thể dương tính trong 50% trường hợp và rất hữu ích trong việc lựa chọn kháng sinh khi cấy máu dương tính.

Siêu âm tim: giúp loại trừ tình trạng viêm màng tim hay sùi van tim.

Sinh thiết qua da: sinh thiết qua da được thực hiện dưới hướng dẫn của CT hay X – quang, nuôi cấy vi trùng trên 60% dương tính.

vi khuẩn Staphylococcus aureus gây viêm thân đốt sống
Staphylococcus aureus, vi khuẩn gây viêm thân đốt sống

3.Những tác nhân gây viêm thân sống đĩa đệm

Những tác nhân gây viêm thân sống đĩa đệm thường gặp nhất là:

  • Vi trùng Staphylococcus aureus.
  • Vi trùng S.albus, s. epidermidis, thường gặp nhiều trong viêm nhiễm sau mổ.
  • Ngoài ra, một số vi trùng gram âm như E.Coli, Proteus species,… cũng có thể dẫn đến viêm thân sống đĩa đệm.
  • Vi khuẩn đường ruột cũng có thể dẫn đến viêm đĩa đệm sau mổ nếu như không phát hiện thủng dây chằng dọc trước với thủng ruột.
  • H. flu có thể gặp phải trong trường hợp viêm thân sống đĩa đệm thanh thiếu niên.
  • Viêm đốt sống do lao (pott’s disease) cũng có thể dẫn đến tình trạng viêm đĩa đệm thanh thiếu niên.
MRSA, một mầm bệnh hiếm gặp liên quan đến viêm thân đốt sống
MRSA, một mầm bệnh hiếm gặp liên quan đến viêm thân đốt sống

4.Điều trị viêm thân sống đĩa đệm

Viêm thân sống đĩa đệm có thể đạt được hiệu quả điều trị trong khoảng 75% trường hợp bệnh. Điều trị viêm thân sống đĩa đệm có thể chỉ định điều trị bảo tồn hoặc điều trị can thiệp bằng phẫu thuật. Tùy theo tình trạng viêm thân sống đĩa đệm và sức khỏe của bệnh nhân mà việc điều trị sẽ được chỉ định riêng biệt cho phù hợp:

  • Nghỉ ngơi và điều trị phục hồi: nghỉ ngơi và điều trị phục hồi sẽ giúp bệnh nhân giảm nhanh các cơn đau cấp, ổn định tổn thương do viêm thân sống đĩa đệm. Bệnh nhân có thể được sử dụng đeo nẹp trung bình từ 6 đến 8 tuần. Bệnh nhân cũng có thể được chỉ định dùng băng cố định hoặc nịt có thanh trụ đỡ.
  • Điều trị bằng kháng sinh: điều trị bằng kháng sinh theo kháng sinh đồ có hiệu quả nhất định trong những trường hợp nhiễm trùng. Bên cạnh đó, tùy theo trường hợp vi trùng không được cô lập thì có thể sử dụng kháng sinh phổ rộng. Điều trị bằng kháng sinh có thể được áp dụng với kháng sinh đường tĩnh mạch từ 4 – 6 tuần, dùng kháng sinh đường uống từ 4 – 6 tuần tiếp theo. Bệnh nhân cũng có thể được điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch cho đến khi ERS bình thường và ổn định rồi chuyển sang dùng kháng sinh đường uống. Những kháng sinh phổ biến thường được áp dụng gồm có Vancomycine 1 g/1 lọ, pha Natriclorua 0,9% 200 ml truyền tĩnh mạch mỗi 12 g, Rifambin đường uống 12 mg/kg/24 g. Các loại kháng sinh phổ rộng cũng thay đổi tùy thuộc độ nhạy của kết quả nuôi cấy vi trùng nếu kết quả dương tính.
  • Phẫu thuật: thường được thực hiện kết hợp với các biện pháp giảm đau, dãn cơ tùy tình trạng đau (NSAID, paracetamol, gabapentin). Một số thuốc hỗ trợ phục hồi thần kinh như nuleoiort, calci D3, rocaltriol, alendronate,… Thông thường phẫu thuật có thể được thực hiện trên bệnh nhân viêm tủy xương cột sống tiên tiến.
Điều trị viêm thân sống đĩa đệm
Điều trị viêm thân sống đĩa đệm cho bệnh nhân bằng phẫu thuật

Trên đây là một số thông tin mà bạn cần biết về bệnh viêm thân sống đĩa đệm và những biện pháp khắc phục. Khi có các dấu hiệu khởi phát của bệnh viêm thân sống đĩa đệm bạn nên thăm khám sớm để tránh những ảnh hưởng về lâu dài cho sức khỏe.

❢ Thông tin hữu ích dành cho người mắc bệnh xương khớp:

Nội dung hữu ích

Đề phòng bị teo cơ do thoát vị đĩa đệm

Vận dụng bấm huyệt trong điều trị thoát vị đĩa đệm

Chi phí bơm xi măng sinh học vào cột sống khoảng bao nhiêu ?

Bị thoát vị đĩa đệm L3 – L4 kèm theo mảnh vỡ có nguy hiểm không?

Ý kiến bạn đọc

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *